All rights reserved.
Diemdaoweb




Kỷ niệm với nhà thương

Sáng thứ hai, tôi có hẹn với bác sĩ gây mê lúc chín giờ ở
nhà thương S.J.
Đến gallery St Jean, cửa số ba. Có một borne trên có nhiều
hàng chữ, khám bịnh, trả tiền, lấy hẹn...Tôi bấm số khám
bịnh, ngồi chờ, nhìn lên một màn ảnh TV thấy số và đến
guichet, đưa carte SS, carte mutuelle. Cô thư ký làm những
thủ tục cần thiết, cô đưa cho tôi một xấp giấy và đến phòng
đợi, chờ gọi tên.
Sáng nay may mắn gặp bác sĩ dễ thương, thủ tục khám
nhanh chóng. Sau đó, tôi lại qua một phòng đợi khác để
làm cardiogramme.

Chiều ngày hôm sau, trở lại nhà thương làm thủ tục nhập
viện. Lần này đến  gallerie Ste Genevieve. Nhà thương có
hai galleries, phía mặt là gallerie St jean, và phía trái là
gallerie St Geneviève. Lại cũng bấm náy, có số, ngồi chờ
đến lượt. Thủ tục nhanh chóng nhưng lần nầy thì ông làm
thủ tục vẻ mặt lạnh như tiền.
- Bà lên lầu hai. Bà chờ y tá chỉ phòng.

Lên đến nơi, một couloir dài hun hút, hai bên là hai dãy
phòng cho bịnh nhân. Không một bóng người qua lại,
khoảng vài phút sau, tôi đi dài theo hành lang hi vọng tìm
ra được một văn phòng để hỏi thăm.
Một phòng khá rộng, có hai người mặc áo trắng, tôi hỏi làm
sao để biết phòng.
- Bà đứng chờ ở hành lang, thấy y tá đi ngang qua để hỏi.
Thế rồi tôi lại tiếp tục đứng chờ, đi qua đi lại hành lang
vắng bóng, tình cờ thấy người nhân viên áo trắng lau chùi
một căn phòng, tôi hỏi.
- Bà có biết làm sao để gặp y tá?
- Họ đi ăn rồi.        

Nhìn đồng hồ, kim chỉ hai giờ rưởi, không lẽ nhân viên của
bịnh viện đi ăn trễ như vậy? Cũng là những điều tự hỏi
thôi. Tôi lại tiếp tục cuộc hành trình, tiếp tục đi thám thính
ở dãy hàng lang chiều ngược lại, tìm ra được một phòng có
một người áo trắng, tôi bước vào.
- Chào bà, tôi nhập viện hôm nay, không biết làm sao tôi
biết được số phòng của tôi?
- Có lẽ bà phải cho tôi biết tên của bà? bà ấy hỏi với một
giọng gay gắt.
Tôi nói tên, bà nhìn vào một tờ giấy, ngẩng lên nhìn tôi,
giọng lạnh lùng.
- Bà đã đi nhầm cửa, cửa số một ở cuối hành lang.
Tôi đi trở lại cuối hành lang, không thấy một ai, không tìm
ra được một phòng làm việc nào. Tôi có cảm giác là mình
lạc vào một hành tinh nào đó ! Đi ngơ ngác giữa " chốn
không người". Bỗng nhiên, một người áo trắng đang lấy
thuốc cho bịnh nhân trên một xe đẩy, tôi đến hỏi thử.
- Chào bà, tôi đã làm xong thủ tục nhập viện hôm nay, làm
sao tôi có thể nhận phòng.
- Bà tên gì?
Sau khi nói tên thì bà ấy nói.
- Có một phòng trống ở cuối dãy, phòng số 2.304.        

Bà y tá đưa tôi đến, mở cửa phòng cho tôi vào. Căn phòng
nhỏ, một phần tường sơn màu hồng nhạt, một phần sơn
màu trắng. Một giường nhỏ drap màu hồng nhạt, một table
de nuit nhỏ bên cạnh giường. Đối diện vói giường, dựa
tường, một bàn, một ghế nhỏ để làm bàn viết. Một ghế dựa
màu xám nhạt cùng màu với bàn viết. Ngoài ra trong phòng
có douche, sạch sẽ tựa như phòng của khách sạn.
Trên tường đối diện với giường có gắn một máy truyền hình
nhỏ. Muốn thuê máy TV hay có wifi, bịnh nhân tự liên lạc
với tổng đài bằng điện thoại. Phương tiện liên lạc nầy
không mang lại hiệu quả vì khi mình làm số ghi trên bảng
hướng dẫn 587 thì chỉ nghe tiếng Bip Bip.

Khoảng trước giờ ăn tối có một người mặc áo trắng, trẻ
tuổi, khác hẵn với những người mà tôi được diện kiến từ lúc
đặt chân vào bịnh viện này. Người mặc áo trắng tự giới
thiệu cô là bác sĩ trực (interne), tên cô là Fanica. Trên ngực
áo có mang bảng tên.
Cô cắt nghĩa cho tôi hiểu phương cách giải phẩu lần nầy,
sau đó cô khám và đặt những câu hỏi về bịnh trạng. Tôi
được biết cô đã tốt nghiệp bác sĩ chuyên môn ở nước cô,
Roumanie. Cô sang đây và làm việc ở bịnh viện này để học
hỏi thêm cho nghề nghiệp của mình và cô đã được sang
Pháp thực tập hơn một năm nên cô nói tiếng Pháp rất trôi
chảy, chỉ có một chút accent. Cũng một người áo trắng
nhưng là người làm đúng chức năng của mình!

Chiều sáu giờ, một bữa ăn tối được mang đến trên một
mâm gồm có một tô soupe với các loại rau xanh, một dĩa
trong đó có taboules, ommelette mềm như bọt biển, một ổ
bánh mì nhỏ, một lát fromage nhỏ, một hộp trái cây cắt
nhỏ ngâm nước đường. Người phục vụ có lẽ mệt vì công
việc vì từ lúc vào tôi thấy bà không ngừng dọn dẹp lau chùi
những phòng mà bịnh nhân đã rời bịnh viện, bà làm việc
một cách yên lặng, buồn bã, không một chút tình cảm. Vì
mệt hay vì  không hài lòng với công việc của mình?

Khoảng chín giờ tối, một cô gái trẻ, mặc áo màu xanh, cô
đẩy cửa phòng bước vào, tự giới thiệu cô là aide soignante
trực đêm. Cô cho biết giờ tôi lên bàn mổ ngày mai vào buổi
chiều và buổi sáng của ngày mổ, chỉ được một tách cà phê
mà thôi. Cô đưa cho tôi một chai thuốc tắm khử trùng
bétadine. Tôi phải tắm gội một lần vào buổi tối và sáng
trước khi mổ. Tắm xong, chờ cho tóc khô là gần mười giờ
đêm. Phòng ở đây được đóng cửa nên người bịnh không
phải nhìn thấy hành lang ban đêm với ánh đèn lờ mờ,
không bóng người qua lại, tuy nhiên tôi để đèn để ngủ với
một nổi lo sợ vẩn vơ !

Sáng sớm có người y tá bước vào lấy máu để đi thử nghiệm
mà bịnh nhân cũng không biết thử gì? Rồi đo tension, đo
nhiệt độ. Ngồi một mình trong phòng bao trùm sự yên lặng,
chỉ nghe tiếng xe cộ qua lại dưới đường phố. Sự yên lặng
trống vắng của căn phòng nằm cuối hành lang, ít người qua
lại càng làm tăng thêm nổi lo. Lát sau có một nhân viên
mang vào một bao trong đó có một áo khoác, một gant tay,
một slip, một khăn lau mình, tất cả bằng giấy và được khử
trùng! Người nhân viên cho biết giờ lên phòng mổ trễ một
giờ hơn giờ dự định.

Vì là phòng trả tiền, nên có được nhà tắm trong phòng,
không phải đi ra phòng tắm ngoài hành lang. Tắm xong, tóc
chưa kịp khô, một băng ca được đẩy tới. Tôi được đẩy qua
suốt dãy hành lang dài, đến thang máy đi xuống tầng hầm
lúc đó khoảng hơn một giờ.

Nằm trên băng-ca, trong phòng đợi, chung quanh tôi có
nhiều người, những người đợi vào phòng mổ, và những
người từ phòng mổ chuyển ra nằm chờ theo dõi, khi bình
yên thì họ mới được lên phòng. Thời gian đi qua một cách
chậm chạp, mỗi phút ttrôi qua mà tôi cảm thấy dài như vô
tận. Có nhiều lúc nỗi lo sợ dâng lên, tôi muốn bỏ chạy. Nơi
đây là tầng hầm của nhà thương nên tôi cảm thấy lạnh,
cũng có thể vì chưa được ăn, hay vì sợ. Tôi báo cho người
nhân viên. Ông này tử tế mang lại cho tôi một máy sưởi
nhỏ. Tôi hỏi bao giờ đến lượt tôi, ông trả lời tôi phải đợi vì
có những ca mổ gấp. Thời gian lại tiếp tục trôi qua một cách
lặng lẽ và vô tình. Lời cầu nguyện giúp tôi cảm thấy bình
yên và có sự kiên nhẫn để đợi chờ.

Từ lúc xuống tầng hầm tôi không nhớ thời gian mà mình
nằm ở đây bao lâu?  Sau cùng thì tôi được đẩy vào phòng
mổ. Lần này thì tôi lại mong cho thời gian chờ đợi kéo dài,
vì tôi cảm thấy run vì sợ. Lại tiếp tục cầu nguyện. Cũng
may nguời nhân viên tử tể, có lẽ vì nhiều kinh nghiệm hay
cảm thấy người bịnh quá sợ. Bà vừa nói chuyện vừa chụp
thuốc mê, cho đến lúc tôi không cò trả lời nữa, lúc đó tôi
không biết khôngnghe gì nữa. Đến khi tỉnh dậy thì mọi
chuyện đã xong. Tôi được đẩy lên phòng thì trời đã sụp tối,
khoảng tám giờ tối. Người y tá trực tử tế, đi tìm cho tôi một
hủ yaourt vì người lo bữa ăn tối đã đi về. Tôi được ưống
một chút nước và sau mấy giờ đồng hồ thì tôi được ăn nhẹ!

Khoa học tiến bộ giúp cho con người không bị đau đớn về
thể xác, tuy nhiên sự sống còn cũng là số mệnh, vì có
những trường hợp mổ thường mà số Trời đã định thì có
những biến chứng. Tự hiểu như vậy nên khi vào phòng mổ
thì mình phải đành phó thác cho số mạng thôi. Nhưng vì
còn nặng nợ trần gian nên tôi được qua khỏi và sau hai
ngày năm bịnh viện và được trở về nhà. Mọi chuyện bình
yên.

Những lo âu hay nỗi sợ nào con người cũng phải đối diện
theo năm tháng nhưng mỗi người tự vượt qua bằng nhiều
phương cách khác nhau. Riêng tôi, có lẽ ảnh hưởng theo
giáo dục của Ngoại tôi. Tôi nhớ khi còn bé, mỗi lần bị bịnh,
trước chén thuốc bắc đắng nghét với một màu đen nghịt, và
một mùi khó ngửi, Ngoại dỗ tôi và nói rằng : “Thuốc đắng
đã tật. Ráng uống đi con, cho hết bịnh “  Trong lúc tôi nhăn
nhó rang nuốt từng ngụm và lời lâm râm cầu nguỳện của
Ngoại cứ văng vẳng bên tai. Cho đến lớn, những lúc nguy
khốn tôi vượt qua được cũng nhớ lời cầu nguyện. Dù không
có gì chứng minh là lời ccầu nguyện đưa mình qua khỏi
những khó khăn nhưng lòng tin đã giúp tôi thêm sức mạnh
trong nhiều hoàn cảnh ngặt nghèo.

Diễm Đào
Paris 2013