All rights reserved.
Diemdaoweb



Câu chuyện trong nhà
dưỡng lão

Bà Tám ngồi trên chiếc xe lăn, nhìn ra cửa sổ. Bà vẫn
thường ngồi hằng giờ như vậy, nhìn thời gian trôi qua một
cách chậm chạp.

Bụi tuyết trắng xóa, bay lả tả như bông gòn, chốc lát phủ
đầy các cành cây trụi lá. Bầy chim se sẻ quen thuộc,
thường hay bay đến  cửa sổ để ăn những hạt cơm trắng
xoá, hôm nay bà không còn thấy nữa, có lẽ vì bên ngoài
trời quá lạnh nên chim ẩn mình trong tổ ấm ?

Bà ngồi một mình, nhìn mùa đông trôi qua. Co ro trong
chiếc áo len, trên vai phủ thêm một khăn choàng cũng
bằng len mà Nhung, con gái đã đan tặng bà khi bà lìa đất
nước thân yêu. Từ giã đứa con gái ngoan hiền để đi đến
một vùng trời thật xa, một nơi mà khí hậu hoàn toàn ngược
với quê hương bà, chuyến ra đi của bà gọi là « đoàn tụ »
cùng gia đình Quân, đứa con trai mà bà đã từng đặt tất cả
tình thương và hi vọng ngay từ thuở bé.

Bà còn nhớ khi ở quê nhà, bà không bao giờ hình dung
mình có thể chịu đựng được cái lạnh như cắt da ở đây.
Nhưng rồi ở đâu rồi thì cũng phải bắt buộc thích nghi để mà
sống. Cuộc đời bà luôn luôn bận rộn, làm việc, giúp đỡ mọi
người. Cả quảng đời thanh xuân, bà luôn luôn một mình,
một thân một mình lận đận nuôi con vất vả ngược xuôi để
mong cho con cái nên người. Nay phải đành gò bó trong
chiếc xe lăn, trong một căn nhà gọi là « Nhà dưỡng lão »,
dành cho những người già cả, cho những cha mẹ vì tuổi già,
đau ốm bịnh tật, trở thành gánh nặng cho con cái. Một cuộc
sống vô ích và gần như là một nhà tù giam lỏng !

Hai chân bà bị bại sau lần trợt té trong nhà tắm. Tuy nhiên
đầu bà vẫn còn sáng suốt, hai bàn tay bà vẫn còn khéo léo
để lo được những buổi cơm nóng canh sốt cho vợ chồng
Quân, vẫn còn may vá quần áo được cho mấy đứa cháu của
bà, Xuân Mai, Anh Đào, Quang Minh và Quang Sơn, là
những đứa cháu nội cưng thương của bà. Và cũng chính bà
đã từng chăm sóc chúng khi mới lọt lòng. Nhưng từ khi bà
phải ngồi xe lăn, sự di chuyển của bà trên chiếc xe làm
vướng chân Xuân Lan, đứa con dâu mà bà đã cầm trầu cau
đi cưới hỏi cho con mình sau khi Quân tốt nghiệp bằng bác
sĩ ở Pháp, trở về nước để làm việc.

Vì hoàn cảnh đất nước đổi thay, Quân cùng vợ và hai đưa
con lớn, Xuân Lan, Anh Đào sang Pháp. Sau một thời gian
định cư, vợ chồng Quân làm giấy tờ để rước bà sang, để lo
cho mẹ lúc tuổi già. Bà Tám cảm động trước tấm lòng hiếu
thảo của con trai nhưng không nỡ bỏ Nhung trên đất nước
nghèo nàn còn nhiều khó khăn. Nhung thưong mẹ và nghĩ
rằng anh mình có địa vị, nhà cửa sang trọng đầy đủ tiện
nghi mới có khả năng để lo cho mẹ chu đáo hơn mình.
Nhung thương mẹ nhưng hoàn cảnh gia đình Nhung thiếu
trước hụt sau, Nhung tự thấy mình không thể nào lo cho
mẹ chu toàn được nên đành bấm bụng khuyên mẹ nên đi.

Nhưng khi đặt chân lên đất Pháp, dân dần bà hiểu ra là vợ
chồng con trai cần một người «vú em », một người giúp
việc không lương. Tuy nhiên tình thương con và cháu làm
cho bà có thể chịu đựng tất cả. Sau đó con dâu lại sanh
thêm hai cháu nội trai, Quang Minh và Quang Sơn. Vui vì
được quây quần bởi những đứa cháu xinh xắn, ngoan
ngoãn, bà cứ quần quật cả ngày với mấy đứa cháu, và thêm
công việc nhà. Đưa cháu đi mẫu giáo, rước về cho ăn cơm
rồi để Minh và Sơn trên xe, đưa hai cháu gái trở lại trường.
Về nhà lo cơm chiều, tắm rửa cho mấy cháu. Còn con dâu
bà thì hết đi học đàn, rồi đi tập thể thao cho đẹp người.
Thời gian trôi qua nhanh, đâu tóc bà bạc nhanh, lưng bà
như còng xuống vói sức nặng của thời gian. Nhìn các cháu
lớn nhanh, mạnh khoẻ và thương bà nên bà thấy lòng mình
ấm lại vì dù sao sự có mặt của bà cũng ích lợi cho con cho
cháu. Ngoài ra bà còn được tiền trợ cấp của nhà nước cho
ngưòi già không lợi tức. Con bà lúc bảo lãnh bà sang, bà
không hiểu con bà đã làm giấy tờ như thế nào mà bà có
được mỗi tháng một ít tiền túi. Nhờ vậy mà bà có được chút
đỉnh tiền riêng và nhín nhúc để gởi cho Nhung. Bà không
hề hở môi cho con gái biết những vất vả của bà với gia đình
Quân.

Tuy nhiên sức ngưòi có hạn, bà ngả bịnh, bà té trong nhà
tắm, hai chân bị bại. Mọi cử động của bà trở nên chậm
chạp. Sư di chuyển trên chiếc xe lằn làm vướng chân mọi
người trong nhà. Nay mấy cháu lớn, ăn ở « căng tin » nên
sự có mặt của bà không còn cần thiết như xưa. Con trai và
con dâu quyết định đưa bà vào ở đây.

Ba đã khóc hết nước mặt, năn nỉ con cho bà được trở về căn
phòng nhỏ trên grenier. Chiếc xe lăn không thể đưa lên
trên đó, sư có mặt của bà làm choáng chật nhà, cho nên dù
bà có khóc hết nước mắt cũng không lay chuyển được lòng
con dâu.

-        Chào Bác Tám ! Bác khỏe không ? Bác ăn điểm tâm
đi để  còn sửa soạn để con và cháu bác đến thăm bác chứ.

Gịong nói quen thuộc và dịu dàng của Trúc, người giúp  
việc ở nhà dưỡng lão này, là người duy nhất nói cùng tiếng
nói với bà và cũng là người thấu hiểu hoàn cảnh của bà.
Nếu không ngoài ra chung quanh bà chỉ là bốn bức tường
và chung quanh chỉ là những người khác ngôn ngữ nên bà
cảm thấy thật là lẻ loi, đơn độc.

-        Cháu mới tới đó hả, nãy giờ bác có ý trông cháu.
Ngồi bên cửa sổ nhìn tuyết rơi, bác thấy nhớ nhà làm sao.
Ở đây riết rồi bác cũng không cò nhớ ngày tháng gì nữa.
Mà thôi nhớ làm gì vì ngày nào thì cũng như ngày nấy thôi !

Trúc nhìn bà mỉm cười, dịu dàng đến giúp bà đẩy xe về phía
bàn ăn nhỏ, vừa là bàn ăn mà cũng vừa là bàn nhỏ để bà có
thể viét lách khi buồn.
Trúc đặt mâm điểm tâm gồm có một tách cà phê sữa, hai
miếng bánh mì nướng, mứt, mật ong, sữa chua.
Bà Tám nhìn Trúc, buồn bã, cười :

-        Nghĩ lại mình là người Việt mà phải ăn mãi những
món này, đôi khi bác nhớ đến tô hủ tiếu, hay tô phở bốc
khói với mùi thơm mà thèm. Nhưng thôi dù sao mình cũng
có thức ăn ngày hai bữa, chung quanh mình còn biết bao
nhiêu người nghèo đói, không nhà không cửa phải không
cháu ?
-        Dạ ! Hôm nay con không thể ở lại lâu để chuyện với
bác được vì có hai người nghỉ bịnh nên thiếu người phục vu.
-        Thôi cháu lo đi làm đi. Bao giờ rảnh thì xẹt qua chơi
nghen.
-        Bác ăn ngon nhen. Nhưng bác nhớ là hôm nay bác có
gia đình đến thăm. Con không hứa nhưng mai con sẽ ghé.
Bà Tám gật đầu buồn bã nhìn theo bóng Trúc với chiếc xe
nặng trĩu các mâm thức ăn khuất dần trong hành lang dài
hun hút, Ở đây mỗi người mỗi cảnh, tuy nhiên mọi người
giống nhau ỡ tuổi già và đa số là những người tàn tật
không còn tự túc được để lo thân. Con cái phần bận rộn với
cuộc sống, phần vì sự tật nguyền của cha mẹ già trở nên
một gánh nặng. Nhìn các cu già đầu tóc bạc phơ, lưng còng
xuống với sức nặng của thời gian, tay run rẩy, có người
không còn đủ sức đưa thức ăn vào miệng. Các cụ đã từng
dìu dắt con mình trong những bước đi đầu tiên. Lo cho con
từng miếng ăn, giấc ngủ khi con còn nằm nôi. Nhưng đến
khi cha mẹ già không còn đủ sức nữa, con cái có phần vì
cuộc sống bon chen, vật lộn với miếng ăn, hoặc không còn
sự kiên nhẫn để chịu đựng thêm gánh nặng nên đành phải
đưa cha mẹ vào đây. Ở đây dù miếng ăn, thức uống không
thiếu gì, có nệm ấm chăn êm. Nhưng nơi đây con người chỉ
thiếu tình thương, thiếu lời han hỏi, thiếu bàn tay nâng đỡ.
Con người đôi khi không phải chỉ cần ăn mặc, mà con người
cần có tình thương. Những tâm hồn cô đơn, thiếu sự trau
đổi bằng lời nói nên những người già sẽ già đi một cách
mau chóng, trí nhớ sẽ mất dần. Người già còn đódù đầu óc
còn minh mẫn nhưng thân xác như những cành cây khô cằn.

Ngoài hàng lang dài hun hút, Trúc với chiếc xe đẩy đầy
thức ăn, phải mang vào phòng cho mọi người. Trúc phải
phân phối cho kịp giờ.

-        Cô Trúc ơi ! Mở dùm tôi hộp sữa chua.
-        Cô Trúc ơi ! Ở lại với tôi một chút
-        Cô Trúc ơi ! Đỡ dùm tôi lên giường.

Tứ ngoài hành lang Trúc nghe nhũng lời kêu than của
những người cô đơn, cần tình thương. Tiếng kêu của những
người không còn sức kháng cự, đấu tranh. Tim Trúc nghe
nhói đau. Riêng Trúc, Trúc cũng có những nỗi buồn, những
ray rức, ngày Trúc rời bỏ quê hương ra đi, ngoại Trúc cũng
cao tuổi, mắt ngoại đã mờ. Ngoại cũng đã quên nhiều
nhưng ngoại vẫn biết được là Trúc sẽ đi xa, rất xa và không
biết ngày nào trở về.
-        Con đi Tây hả con ? Ngoại không biết bao giờ con mới
trở về để thăm ngoại. Ngoại nhớ, ngày tiển đưa dì con lên
tàu đi về Pháp, cũng lâu rổi mà dì con cũng không thấy trở
về thăm ngoại như dì đã hứa. Con đi rồi thì chắc cũng
không biết bao giờ ngoại được gặp lại con. Nhưng thôi ngoại
già rồi thì rồi ngọai cũng đi theo ông bà. Con còn trẻ, phải
đi để mà lo tương lai cho hai nhỏ. Thôi con cũng đừng lo
cho ngoại, dù gì chăng nữa ngoại còn má con. Con đi mạnh
giỏi, bao giờ làm ăn có tiền thì gởi về cho má con ; tội
nghiệp má con cũng cực khổ cả đời cho đến giờ này cũng
không giàu có gì.

Tình thương của bà và mẹ dành cho Trúc lúc nào cũng tràn
đầy, chăm lo cho Trúc từ tấm bé, cho nên dù lớn lên vắng
bóng người cha mà Trúc không hề thấy sự trống vắng. Ngày
nay lớn lên, đã thành người nhưng tự hỏi mình đã làm gì để
đáp lại công ơn dưỡng dục kia ? Làm việc vất vả, không một
ngày nghỉ nhưng số tiền kiếm ra được nơi xứ lạ quê người,
chưa cho phép Trúc làm được gì cụ thể cho người mình
thương. Trúc tự thẹn với lòng. Ngày Ngoại ra đi vĩnh viễn,
Trúc vừa mới nhận việc làm, giấy tờ đươc nhận cư ngụ chưa
chính thức, không được về nhìn thấy mặt ngoại lần cuối,
mỗi khi nhớ lại Trúc cảm thấy ray rức vì chưa được đáp đền
cho ngoại như đã tự hẹn với lòng. Nay ngoại đã ra người
thiên cổ, Trúc đã làm được gì cho mẹ mình ? Tương lai của
Trúc nơi đây là gì ? Là mỗi ngày làm công việc nhỏ nhoi,
không tương lai, chỉ mong sao có dược cơm ăn ngày hai
bữa, có chỗ cư ngụ, chỉ với niềm hi vọng mong manh là cho
con có tương lai, có thể đi học xa hơn nữa. Niềm hi vọng
này giúp Trúc cò thêm can đảm để làm công việc mà mình
không thích hợp.

Cảnh các cụ già ở đây cũng là hình ảnh của ngoại, của mẹ.
Trúc xúc động mổi khi nghe những tiếng kêu tuyệt vọng,
những lời tâm sự buồn thảm của từng người, nơi đây cho dù
có tiện nghi, nói rằng được chăm sóc thuốc men, dù có
người lo cho những bữa ăn đầy đủ chất bổ. Tuy nhiên con
người lại không đơn giản như vậy, ngoài vấn đề ăn ngủ,
con người cần có tình thương, một lời thăm hỏi, một cái
nhìn thương yêu. Có những ông bà, rất lâu không người
thăm viếng, dần dần họ sống thu rút trong thế giới riêng,
một thế giới gần như không còn ngôn ngữ nữa. Người giám
đốc, vì muốn lãi xuất nhiều, nhân công thì quá ít, nên
những người « pensionnaires » không được chăm sóc tận
tình. Trúc chỉ là người làm công, dù có muốn dừng lại để
chuyện trò, giúp đỡ Trúc cũng không có đủ thì giờ. Trúc cố
gắng trong công việc nhỏ nhoi này, hi vọng với một chút
tình người hầu sưởi ấm được phần nào cho những người vì
một lý do nào đó gần như bị bỏ rơi.

Ngoài giờ làm viện Trúc thường tìm thì giờ đến chuyện trò
với các ông bà không có con cái đến thăm, mỗi người mỗi
cảnh nhưng chung qui chắc có lẽ không ai muốn vào đây ở.
Duy bà Tám vừa là người đồng hương, vừa là hình ảnh của
ngoại nên Trúc dành một tình cảm đặc biệt. Ngày hôm sau,
sau giờ làm việc như đã hứa, Trúc ghé qua phòng thăm bà
Tám. Đẩy cửa buớc vào phòng. Bà Tám vẫn còn ngồi trên
chiếc xe lăn, xây lưng ra cửa, mắt vẫn hướng về cửa sổ, là
một nơi duy nhất mà bà có thể thấy một chút cảnh vật bên
ngoài. Ngoài trời đã sụp tối, ngang qua cửa sổ nhỏ, chỉ là
một màu đen thẩm.

-        Bác Tám ơi ! Bác nhìn gì đó, trời đã tối rồi ?
Không nghe trả lời. Trúc bước lại gần. Bác quay lại nhìn
Trúc, cặp mắt đỏ hoe.
-        Chuyện gì đó bác ? Sao bác khóc vậy ?
Bà Tám cầm tay Trúc, khóc nức nở :
-        Cô Trúc ơi, ! Bác có tội tình gì đâu mà bây giời phải
giam mình trong bốn bức tường như vầy ?
Bà thúc thích kể :
-        Hôm qua thằng Quân nó điện thoại cho bác hay là nó
không thể vô thăm bác được vì bận chuyện gia đình. Và
cũng chính hôm qua bác nhận được thư của nó nói rằng bác
ở chỗ này tốt lằm rồi. Quân cắt nghĩa khéo rằng, bác già rồi
cần nghỉ ngơi yên tĩnh, không nên có ý nghĩ trở về nhà để
làm gì. Bác có viết thư cho nó, năn nỉ vợ chồng nó cho bác
được trở về nhà, dù phải ở dưới cave cũng được, miễn sao
bác được thỉnh thoảng thấy mấy đứa nhỏ, và có cảm giác là
mình không bị bỏ rơi. Ở đây cũng may nhờ có cháu thỉnh
thỏang đến chuyện trò, nếu không thì bác cũng như người
câm vậy thôi.

Trúc nghe lời than thở của bá Tám mà đau lòng nhung Trúc
thấy mình hoàn toàn bật lực. Thấy cảnh của bà, Trúc muốn
làm một cái gì đó cho bà, nhưng ở một nước có nhiều luật
lệ thì mọi chuyện đôi khi lại không đơn giả. Trúc choàng tay
qua vai bà Tám dỗ dành.
-        Thôi bác cũng đừng buồn. Anh Quân thương bác
nhưng có lẽ anh ấy cũng thấy khó xử khi chị không bằng
lòng. Hơn nữa với địa vị của anh và với luật pháp ở đây,
anh ấy không thể để bác ở dưới cave đâu. Bác đừng buốn,
cháu thu xếp thì giờ để có thể đến thăm bác thường hơn.
-        Cám ơn cháu. Cháu thật là tốt bụng nhưng bác cũng
hình dung được công việc làm của cháu ở đây rất cực mà
đồng lương thì cũng có phần bốc lột. Bác nhớ lại những
năm đầu đến Pháp, bác buồn quá nhung sau dần dần rồi
cũng quen, rồi nhờ chăm lo cho mấy cháu nội, tuy có cực
nhưng vui vì thấy dù sao mình cũng giúp ích phần nào cho
con cho cháu, sự có mặt của mình cũng không vô dụng. Xui
thời vì té, không đi đứng được như trước nhưng khổ nỗi cái
đầu chưa lú lẩn. Bác còn may vá, làm bánh trái được. Bác
chỉ buồn là muốn quay trở lại quê hương nhưng bác dấu
chuyện buồn này không nói cho Nhung nó biết chỉ sợ nó
buồn thôi.
-        Cháu nghe nói thủ tục xin trở về nước cũng không
đơn giản cũng như lúc mình xin đi vậy.
-        Bác cũng có nghe nhiều người nói như vây. Nghĩ cuộc
đời cũng buồn cười. Lúc xin đi thì mình chờ đợi từng ngày,
để có được giấy xuất cảnh. Rồi chờ đợi để có tên trên danh
sách chuyến bay. Ngày xưa khi đi thì bác cũng tưởng là vài
năm sau đó thì bác có thể xin cho Nhung qua ở với bác
nhưng thực tế không đơn giản như mình nghĩ. Bởi vậy sự
lựa chọn nào cũng không biết là có đúng hay không ? Con
người đôi khi bị hối tiếc vì sự chọn lựa của mình. Đúng hay
sai của cuộc đời chỉ là sự tương đối thôi, phải không cháu ?
-        Cháu có mua cho bác một đòn chả lụa, nhưng cháu
chỉ mang cho bác một miếng để ăn chiều nay thôi, vì luật
cấm mang thức ăn từ bên ngoài vào.
Bá Tám cầm tay Trúc, vuốt nhẹ ;
-        Cám ơn cháu. Cháu có lòng thương người, Tròi sẽ
ban ơn cho cháu. Mai kia nến bác có qua bên kia thế giới
bác sẻ phù hộ cho cháu.
-        Trời ơi, bác đừng nói như vậy, bác sẽ còn sống lâu
mà.
-        Sống lâu để làm gì khi thấy mình trở thành vô dụng
và là gánh nặng cho nhiều người hả cháu ? Buồn một phần
vì sự tật nguyền của mình nhưng nỗi buồn lớn nhất là mình
cảm thấy bị bỏ rơi.

Câu nói tuy có vô tình của bà Tám nhung không khỏi làm
cho Trúc chạnh lòng. Trúc cũng tưởng rằng, mình đi « lập
nghiệp » nơi xứ người và sau thời gian yên nơi, yên chốn
Trúc sẽ tìm cách lo cho ngoại và mẹ sang đoàn tụ cùng với
gia đình nhỏ của mình. Nhưng thời gian qua, cuộc sống
cuốn hút, vật lộn để có dược công việc làm nhỏ nhoi, có
giấy tờ hợp lệ để được định cư, nhưng số lương khiêm
nhường kia, căn nhà với diện tích qua nhỏ hẹp, Trúc vẫn
chưa thưc hiện được lời hứa kia.

-        Trúc ơi, sao cháu có vẻ buồn như vậy ?
-        Dạ nghe bác nòi chuyện làm cháu nhớ đến ngoại
cháu, cháu cũng chưa làm gì để đền đáp công ơn nuôi
dưỡng của ngoại và lời ước nguyện cuối cùng của ngoại, là
chết đừng thiêu mà cháu cũng thấy bất lực. Mẹ cháu còn
sống bên nhà nhưng vơi số tiền gởi về hằng tháng cũng
không đủ cho mẹ mình có một cuộc sống an nhàn như cháu
vẫn hằng mơ ước. Cháu buồn vì sự bất lực và bất tài của
mình. Cháu không dám nói để binh vực anh Quân nhưng
cháu nghĩ có thể anh ấy cũng nằm trong hoàn cảnh khó xử
?
-        Nghe cháu an ủi bác cũng đỡ buồn nhưng buồn là vì
mình cứ nhìn thời gian trôi qua một cách vô ích.
-        Bác đã làm việc nhiều rồi, bây giờ bác có quyền nghỉ
ngơi, đọc sách hay viết lách để có dịp trãi lòng mình trên
những trang giấy. Hôm nào cháu ghé thư viện mang sách
cho bác đọc.
-        Nói chuyện với cháu bác thấy khuây khoả đôi chút.
Nhưng khi còn lại một mình thì lại nhớ con, chớ cháu rồi lại
buồn. Chắc có lẽ mình không còn những đam mê nào để
cho mình quên đi những trống vắng của thời gian mà chỉ
đắm chìm trong những nỗi buồn không lối thoát.

Mỗi người mỗi cảnh, ai cũng có những nỗi buồn. Ngày còn
lại quê nhà, cũng như bao nhiêu người, nghĩ rằng sang xứ
người mình sẽ có đời sống khả quan hơn, sẽ lo cho gia đình
một cách thiết thực hơn. Nhung đụng chạm với thực tến thì
mội nơi, mỗi người đều có những khó khăn, trở ngại mà
mình phải vưọt qua. Tháng năm trôi qua nhanh, đôi khi
nhìn ngược lại thời gian bỏ lại sau lưng, có những điều
mình cảm thấy muộn màng. Ngày bước chân lên máy bay
với niềm tin và hi vọng tràn trề, với quyết tâm mình sẽ
thực hiện được giấc mơ, bài hát mà anh Trúc đã viết tặng
cho Trúc ngày Trúc từ giả gia đình như còn văng vẳng đâu
đây :

« Vẫy tay chào em với tất cả lòng yêu thưong ở trong tim ;
Ngày mai với bầu trời xanh, mộng ước xanh »

Màu xanh là biểu tượng của niềm tin và hi vọng. Khi đặt
chân lên phi trường Roissy, rồi với những ngày dài sắp
hàng để làm thủ tục cư trú. Sự tật nguyền về ngôn ngữ
những kinh nghiệm làm việc ở quê nhà không giúp cho Trúc
tìm được việc làm. Tuổi không còn trẻ để trở lại trường cho
đủ kiến thức thích hợp với môi trường mới. Nhu cầu ăn ở,
lòng tự ái không cho phép Trúc tiếp tục ăn bám vào người
thân, do vậy mà Trúc phải nhận bất cứ việc làm nào để có
tiền và nhất là cho có giấy tờ định cư. Đó cũng là sự lựa
chọn, có thể đúng vào lúc mình quyết định nhung thời gian
qua thì sự quyết định hấp tấp lại không mang đến kết quả
mà mình mong muốn. Bên cạnh những không may của cuộc
đời, của sự chọn lựa của mình, Trúc chỉ còn nềm an ủi để
thấy quyết định của mình không quá sai lầm là hai con Trúc
đã nên người.

Lời than thở của bà Tám cũng là tiếng dội của lương tâm,
Trúc cũng thấy mình chưa đủ bổn phận làm người. Tuy rằng
không ăn bám nhưng thật tế Trúc đã làm được gì cho những
người thân của mình ? Cuộc sống không phải chỉ quanh
quẩn ăn mặc. Phải có một cái gì đó ích lợi cho người khác,
nếu không cuộc sống sẽ rất tầm thường và đôi khi vô nghĩa
?
Trúc hiều được phần nào tâm trạng của bà Tám. Dù rằng ở
đây bà có được cuộc sống tiện nghi, nhung phải nhìn thời
thời gian âm thầm lặng lẽ trôi qua trong bốn bức tường.
Những con người có ý thức trách nhiệm, có tình thưong, có
đôi lúc mình tự nhận là mình chưa hoàn thành trách nhiệm
với đời, chỉ khi mình từ giả cõi đời này chăng ?

Mái tóc bà Tám bạc trắng, ánh mắt của bà tuy vương vấn
một nỗi buồn nhưng vẫn nói lên sự cương nghị. Hai chân bà
tuy không còn xử dụng được nhưng hai bàn tay khéo léo
của bà không ngừng làm việc : hết đan lại móc áo cho các
cháu.

Trúc vuốt nhẹ tay bà Tám an ủi mà phải chăng Trúc đang
tự nói với chính mình :
-        Có những điều ngoài khả năng, con người đôi khi bất
lực.
-        Đúng vậy. Khi bác còn ở nhà Quân thì bác có chút
đỉnh tiền túi để gởi giúp cho Nhung nhung từ khi vào đây ở
thì bác không còn gì nữa hết. Vì vậy bác năn nỉ Quang cho
bác được trở ra ngoài để có chút đỉnh tiền gởi giúp cho
Nhung. Cho dù ra ngoài con cái bận rộn không lo được cho
bác nhưng bác nghĩ bác sẽ tự túc được vì cũng biết bao
nhiêu người ngồi xe lăn mà ngưòi ta vẫn sinh sống bình
thường. Nhưng có lẽ già cả rồi thì mình đâm ra lẩm cẩm,
con cái sẽ bực mình. Ở đây bác cảm thấy mình vô tích sự vì
vậy mà bác thấy buồn nhiều hơn. Hi vọng rồi bác cũng sẽ
thích nghi như lúc mới sang đây, tuy nhiên tuổi càng cao
thì sự thích nghi sẽ khó hơn phải không cháu ?

Trúc không cầm được nước mắt khi nghe lời tâm sự chân
thành của Bà Tám. Đó cũng là tiếng nói của bao bà mẹ
khác. Trúc vội chùi nước mắt :
-        Bác ơi, bây giờ bác không còn cô đơn nữa, còn cháu
đây. Thôi trời tối rồi, cháu đưa bác lên giường nằm nghỉ
nhen ?
-        Trời cũng đã khuya rồi, cháu cũng còn phải về nhà
để mai còn đi làm việc nữa.
-        Mai cháu được nghĩ một tuần. Sẵn dịp cháu từ giã
bác, cháu đi tỉnh vài ngày nghỉ ngơi, làm việc suốt năm
cháu cũng thấy đuối. Tuần sau trở về cháu sẽ ghé thăm bác
và mang quà đến cho bác nhen ?
Bà Tám nhìn Trúc buồn bã :
-        Ồ ! Vậy hả ? Vậy là bác không gặp được cháu trong
một tuần ? Nhung biết bác còn sống để bác cháu mình gặp
lại nhau không ? Mà thôi công việc làm của cháu cực quá,
cháu cũng cần được nghỉ ngơi. Thoi cháu đi chơi vui và ráng
nghỉ ngơi cho lại sức nhen.
-        Dạ, lúc rày cháu cũng hơi mệt. Khi về cháu sẽ ghé
qua thăm bác liền dù chưa phải là ngày cháu làm việc.
Bác Tám nhìn theo Trúc với ánh mắt buồn bã nhưng bà
khóat tay bảo Trúc đi.

Tuần sau, Trúc ghé qua thăm bà. Nhưng khi bước vào
phòng thấy căn phòng trống vắng, Trúc chạy xuống văn
phòng hỏi thăm thì được biết bác Tám đã qua đời từ ngày
hôm sau Trúc từ giã bác, Bác đã uống thuốc để chấm dứt
cuộc đời mà bác cho rằng vô nghĩa. Cô thư ký đưa cho Trúc
quyển nhật ký bác viết để lại cho con trai và nhờ Trúc
chuyển lại.

Trúc không ngờ hình ảnh bà vẫy tay chào Trúc cũng là hình
ảnh cuối cùng. Sự ra đi đột ngột của bà cho dù là sự lựa
chọn của bà nhưng biết đâu chính là sự giải thoát cho chính
bà và cũng là giải pháp cho hoàn cảnh không còn lối thoát.
Có thể cũng là hoàn cảnh của một số người Việt Nam nơi
đất khách quê người ?


DIỄM ĐÀO

Paris, tháng tư 2000